Khi chấm dứt hợp đồng lao động, ngoài tiền lương và các khoản còn lại, người lao động có thể được nhận thêm trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm do người sử dụng lao động chi trả. Đây là hai khoản khác nhau, áp dụng cho các tình huống khác nhau và có cách tính khác nhau — trong khi nhiều người vẫn nhầm lẫn với trợ cấp thất nghiệp do quỹ bảo hiểm thất nghiệp trả. Bài viết dưới đây nêu căn cứ pháp lý (Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP), điều kiện hưởng, thời gian tính, công thức tính và ví dụ bằng số.
1. Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm là gì?
Cả hai đều là khoản tiền người sử dụng lao động phải trả cho người lao động đã gắn bó đủ lâu khi chấm dứt hợp đồng lao động. Chúng khác với trợ cấp thất nghiệp ở ba điểm: nguồn tiền (doanh nghiệp trả, không phải quỹ bảo hiểm thất nghiệp), cách trả (một lần, không phải hằng tháng) và điều kiện hưởng (dựa trên thời gian làm việc thực tế, không dựa trên số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp).
- Trợ cấp thôi việc — Điều 46 Bộ luật Lao động 2019: áp dụng khi hợp đồng lao động chấm dứt vì những lý do thông thường (hết hạn, hoàn thành công việc, hai bên thỏa thuận, đơn phương chấm dứt hợp pháp…).
- Trợ cấp mất việc làm — Điều 47 Bộ luật Lao động 2019: áp dụng khi doanh nghiệp cho thôi việc vì thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập…
2. Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc
Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 1 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người lao động được trả trợ cấp thôi việc khi có đủ hai điều kiện:
- Đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên;
- Hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019.
Ngay cả khi đủ hai điều kiện trên, người lao động vẫn không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong hai trường hợp loại trừ:
- Đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 và pháp luật về bảo hiểm xã hội;
- Tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên (điểm e khoản 1 Điều 36). Lý do chính đáng được xác định theo khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động 2019.
Bảng dưới đây đối chiếu 13 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động tại Điều 34 với quyền hưởng trợ cấp thôi việc:
| Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 34) | Trợ cấp thôi việc |
|---|---|
| Khoản 1 — Hết hạn hợp đồng lao động | Có |
| Khoản 2 — Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng | Có |
| Khoản 3 — Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng | Có |
| Khoản 4 — Người lao động bị kết án phạt tù không hưởng án treo, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng | Có |
| Khoản 5 — Người lao động nước ngoài bị trục xuất | Không |
| Khoản 6 — Người lao động chết, bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết | Có |
| Khoản 7 — Người sử dụng lao động là cá nhân chết…; người sử dụng lao động không phải cá nhân chấm dứt hoạt động | Có |
| Khoản 8 — Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải | Không |
| Khoản 9 — Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 35 | Có |
| Khoản 10 — Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 36 | Có |
| Khoản 11 — Người sử dụng lao động cho thôi việc theo Điều 42, Điều 43 | Không (hưởng trợ cấp mất việc làm) |
| Khoản 12 — Giấy phép lao động hết hiệu lực với người lao động nước ngoài | Không |
| Khoản 13 — Thử việc không đạt yêu cầu hoặc hủy bỏ thỏa thuận thử việc | Không |
Lưu ý quan trọng về thực tế: mức trợ cấp thôi việc được tính trên thời gian làm việc đã trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Vì vậy, người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong suốt quá trình làm việc thường có thời gian tính trợ cấp thôi việc bằng 0 — trường hợp này thường chỉ còn thời gian thử việc hoặc giai đoạn chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính.
3. Mức trợ cấp thôi việc và cách tính
Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định: mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Tiền lương làm căn cứ tính là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc (khoản 3 Điều 46).
Công thức áp dụng:
Trợ cấp thôi việc = (Số năm làm việc tính trợ cấp) × 1/2 × Tiền lương bình quân 06 tháng liền kề
Trong đó, số năm làm việc tính trợ cấp được xác định theo khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP: lấy tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm. Phần thời gian còn lại được tính theo năm (đủ 12 tháng); nếu có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng thì tính bằng 1/2 năm, trên 06 tháng thì tính bằng 01 năm.
Ví dụ: Anh A làm việc cho doanh nghiệp 5 năm 8 tháng, trong đó đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp 3 năm 2 tháng. Thời gian tính trợ cấp thôi việc = 5 năm 8 tháng − 3 năm 2 tháng = 2 năm 6 tháng. Vì lẻ 06 tháng nên được tính tròn thành 2,5 năm. Tiền lương bình quân 06 tháng liền kề là 12.000.000 đồng/tháng. Trợ cấp thôi việc = 2,5 × 0,5 × 12.000.000 = 15.000.000 đồng.
4. Trợ cấp mất việc làm: điều kiện và cách tính
Trợ cấp mất việc làm áp dụng khi người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo khoản 11 Điều 34 — tức là bị cho thôi việc theo Điều 42 (thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế) và Điều 43 (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản).
- Mức hưởng: cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương;
- Mức tối thiểu: ít nhất bằng 02 tháng tiền lương (khoản 1 Điều 47 và khoản 2 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP);
- Tiền lương tính: bình quân 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.
Cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm giống trợ cấp thôi việc: tổng thời gian thực tế trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp, sau đó làm tròn theo năm. Điểm khác biệt là nếu thời gian tính được ít hơn 24 tháng thì người sử dụng lao động vẫn phải trả ít nhất 02 tháng tiền lương.
Ví dụ: Chị B làm việc 11 năm, đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp 8 năm thì bị cho thôi việc do tái cơ cấu. Thời gian tính trợ cấp mất việc làm = 11 năm − 8 năm = 3 năm. Tiền lương bình quân 06 tháng liền kề là 15.000.000 đồng/tháng. Trợ cấp mất việc làm = 3 × 1 × 15.000.000 = 45.000.000 đồng.
5. Thời gian làm việc nào được tính để hưởng trợ cấp?
Theo điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm:
- Thời gian người lao động trực tiếp làm việc;
- Thời gian thử việc;
- Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học;
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
- Thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương;
- Thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương;
- Thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động;
- Thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ việc hưởng nguyên lương (nghỉ lễ, tết, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng…);
- Thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động và thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 128.
Hai khoảng thời gian bị trừ ra khi tính trợ cấp là thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó.
Trường hợp người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau mà khi chấm dứt từng hợp đồng chưa được chi trả trợ cấp, thời gian thực tế làm việc là tổng thời gian theo các hợp đồng, trừ thời gian theo hợp đồng bị tuyên vô hiệu toàn bộ, thời gian thuộc hợp đồng mà người lao động bị sa thải hoặc đã đơn phương chấm dứt trái pháp luật (điểm b khoản 4 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP).
6. Hồ sơ và thời hạn thanh toán trợ cấp
Pháp luật lao động không quy định một bộ hồ sơ riêng để “xin” trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm — đây là nghĩa vụ tự động của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi, người lao động nên lưu giữ:
- Hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng và các quyết định liên quan (thử việc, điều chuyển, nâng lương);
- Quyết định thôi việc, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc văn bản thỏa thuận chấm dứt;
- Bảng lương hoặc sao kê chuyển lương 06 tháng liền kề trước khi thôi việc;
- Sổ bảo hiểm xã hội / xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Về thời hạn, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 yêu cầu trong 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, hai bên phải thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày trong các trường hợp: người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
Người sử dụng lao động còn phải hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại giấy tờ đã giữ của người lao động; cung cấp bản sao tài liệu liên quan đến quá trình làm việc nếu người lao động yêu cầu (khoản 3 Điều 48). Nếu doanh nghiệp không trả hoặc trả không đủ, người lao động có thể gửi yêu cầu bằng văn bản, phản ánh qua tổ chức đại diện người lao động, khiếu nại tới Thanh tra Sở Lao động — Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc khởi kiện ra Tòa án.
7. Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Nghỉ việc đúng luật có chắc chắn được trợ cấp thôi việc?
Đáp: Chưa chắc. Phải đủ 12 tháng làm việc thường xuyên và thuộc một trong các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9, 10 Điều 34. Ngoài ra, thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp bị trừ khỏi thời gian tính trợ cấp, nên nếu đã đóng bảo hiểm thất nghiệp toàn bộ quá trình thì mức trợ cấp thôi việc có thể bằng 0.
Hỏi: Bị sa thải có được trợ cấp thôi việc không?
Đáp: Không. Khoản 8 Điều 34 (sa thải) không nằm trong danh sách được hưởng trợ cấp thôi việc.
Hỏi: Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu có được trợ cấp thôi việc không?
Đáp: Không, nếu người đó đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 và pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Hỏi: Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp thất nghiệp thế nào?
Đáp: Trợ cấp thôi việc do người sử dụng lao động trả một lần theo Điều 46; trợ cấp thất nghiệp do quỹ bảo hiểm thất nghiệp trả hằng tháng khi đủ điều kiện về thời gian đóng và mức đóng. Người lao động có thể vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp vừa được trả trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng điều kiện của từng khoản.
Hỏi: Thời gian thử việc có được tính để hưởng trợ cấp không?
Đáp: Có. Điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP liệt kê thời gian thử việc vào tổng thời gian làm việc thực tế để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Hỏi: Trợ cấp mất việc làm thấp nhất là bao nhiêu?
Đáp: Ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động (khoản 1 Điều 47 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 2 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP), kể cả khi thời gian tính trợ cấp ít hơn 24 tháng.
8. Kết luận
Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm đều do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Trợ cấp thôi việc bằng 1/2 tháng lương cho mỗi năm làm việc; trợ cấp mất việc làm bằng 01 tháng lương cho mỗi năm và ít nhất 02 tháng lương. Điểm mấu chốt cần nhớ là thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị trừ khỏi thời gian tính trợ cấp, và thời gian làm việc luôn được làm tròn theo nguyên tắc tháng lẻ từ 06 tháng trở xuống tính 1/2 năm, trên 06 tháng tính 01 năm.
Xem thêm: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: điều kiện và hậu quả · Trợ cấp thất nghiệp: điều kiện, mức hưởng, hồ sơ · Cách tính tiền lương làm thêm giờ 2026 · Nghỉ phép năm 2026 · Bảo hiểm xã hội một lần.
Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính tham khảo theo quy định pháp luật hiện hành, không thay thế tư vấn pháp lý cho từng trường hợp cụ thể. Các mức nêu trên là mức tối thiểu theo luật; hãy đối chiếu thêm hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và nội quy lao động tại nơi làm việc.