Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế 2026: 30 năm với nhà đất, 10 năm với động sản

Nhiều gia đình chỉ làm thủ tục chia thừa kế sau khi cha mẹ đã mất nhiều năm, thậm chí vài chục năm, khi anh chị em phát sinh mâu thuẫn hoặc khi cần làm giấy tờ nhà đất. Khi đó câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: đã hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế hay chưa? Bởi lẽ, khác với nhiều tranh chấp dân sự khác, pháp luật đặt ra một thời hạn khá dài nhưng có giới hạn cho việc yêu cầu chia di sản.

Bài viết dưới đây do Tiện Ích Pháp Luật tổng hợp từ Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015): thời hiệu chia di sản là bao lâu, mốc thời gian tính từ ngày nào, hết thời hiệu thì di sản thuộc về ai, và người thừa kế cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình.

1. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu?

Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này; b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”

Như vậy, thời hạn để yêu cầu chia di sản phụ thuộc vào loại tài sản:

  • 30 năm — đối với bất động sản: nhà ở, quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, nhà xưởng và các tài sản khác gắn liền với đất;
  • 10 năm — đối với động sản: tiền mặt, vàng, ngoại tệ, sổ tiết kiệm, xe máy, ô tô, hàng hóa, cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp…

Điểm quan trọng nhất là mốc bắt đầu tính thời hiệu: không phải ngày các đồng thừa kế biết quyền của mình bị xâm phạm, mà là thời điểm mở thừa kế (ngày người để lại di sản chết). Đây là điểm khác biệt căn bản so với thời hiệu khởi kiện dân sự thông thường — vốn tính từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 154 BLDS 2015).

2. Bảng phân biệt thời hiệu 30 năm và 10 năm

Loại di sản Thời hiệu Mốc bắt đầu Hệ quả khi hết thời hiệu
Bất động sản (nhà, đất, công trình gắn liền với đất) 30 năm Thời điểm mở thừa kế (ngày người để lại di sản chết) Di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý; nếu không có, thuộc người đang chiếm hữu ngay tình (Điều 236); nếu không, thuộc Nhà nước
Động sản (tiền, vàng, xe, sổ tiết kiệm, cổ phần…) 10 năm Thời điểm mở thừa kế Áp dụng như trên đối với phần động sản

Ví dụ: ông A mất năm 1996, để lại một căn nhà (bất động sản) và một khoản tiền tiết kiệm (động sản). Nếu đến nay các con mới yêu cầu chia di sản thì phần nhà vẫn còn trong thời hiệu 30 năm (tính đến 2026), còn phần tiền tiết kiệm đã hết thời hiệu 10 năm từ năm 2006.

3. Thời hiệu tính từ ngày nào? Thời điểm mở thừa kế

Điều 611 BLDS 2015 xác định: thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 BLDS 2015 — theo đó Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

Thực tế, để tính thời hiệu bạn nên dựa vào giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử do cơ quan đăng ký hộ tịch cấp. Nếu người mất đã lâu, không còn giấy tờ, bạn có thể xin trích lục khai tử tại UBND cấp xã nơi đăng ký. Trường hợp không thể xác định được ngày chết, người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết theo Điều 71 BLDS 2015, làm căn cứ xác định thời điểm mở thừa kế.

Điều 611 BLDS 2015 cũng xác định địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được thì là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản. Quy định này có ý nghĩa khi xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4. Hết thời hiệu chia di sản thì di sản thuộc về ai?

Theo khoản 1 Điều 623 BLDS 2015, khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản:

  1. Di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Người quản lý di sản có thể là người được chỉ định trong di chúc, người do các đồng thừa kế thỏa thuận cử ra, hoặc người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản (Điều 616 BLDS 2015). Người quản lý di sản có nghĩa vụ lập danh mục di sản, bảo quản di sản, thông báo tình trạng di sản cho những người thừa kế… (Điều 617 BLDS 2015).
  2. Nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu, với điều kiện việc chiếm hữu là ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản (Điều 236 BLDS 2015).
  3. Nếu không có người chiếm hữu như trên thì di sản thuộc về Nhà nước.

Cần phân biệt: hết thời hiệu chia di sản không có nghĩa là “tài sản mất trắng” ngay, mà quyền sở hữu được xác lập cho người đang quản lý hoặc người chiếm hữu ngay tình theo cơ chế nêu trên.

5. Ba loại thời hiệu khác nhau trong thừa kế cần phân biệt

Nhiều người nhầm lẫn giữa các mốc thời hiệu trong thừa kế. Điều 623 BLDS 2015 quy định ba loại:

Nội dung yêu cầu Thời hiệu Căn cứ
Yêu cầu chia di sản 30 năm (bất động sản) / 10 năm (động sản) Khoản 1 Điều 623
Yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác 10 năm Khoản 2 Điều 623
Yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại (trả nợ, hoàn trả tài sản…) 03 năm Khoản 3 Điều 623

Lưu ý quan trọng: thời hiệu 03 năm tại khoản 3 Điều 623 được tính kể từ thời điểm mở thừa kế, chứ không phải từ ngày bên có quyền biết mình bị xâm phạm. Đây là quy định đặc thù của thừa kế, khác với thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (03 năm kể từ ngày biết quyền bị xâm phạm — Điều 429 BLDS 2015). Nếu liên quan đến việc cưỡng chế thi hành bản án sau khi đã có phán quyết, bạn có thể tham khảo thêm bài viết về thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự.

6. Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi một bên yêu cầu

Đây là điểm thực tiễn rất quan trọng nhưng ít được biết. Khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.” Nội dung này được nhắc lại tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Hệ quả pháp lý:

  • Nếu bị đơn (hoặc bên có quyền lợi liên quan) không yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu chia di sản theo nội dung, dù trên thực tế thời hiệu đã hết.
  • Yêu cầu áp dụng thời hiệu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định. Đưa ra ở giai đoạn phúc thẩm thường không được chấp nhận.
  • Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

Vì vậy, trong nhiều vụ án thừa kế thực tế, việc thời hiệu đã hết hay chưa phụ thuộc rất nhiều vào việc bên bị kiện có đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu đúng thời điểm hay không.

7. Khoảng thời gian không tính vào thời hiệu và trường hợp bắt đầu lại

Điều 156 BLDS 2015 quy định một số khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, gồm: sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người có quyền không thể thực hiện được quyền của mình; trường hợp chưa có người đại diện đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự…; và một số trường hợp người đại diện chết mà chưa có người thay thế.

Bên cạnh đó, Điều 157 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại khi bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ, hoặc khi các bên đã tự hòa giải với nhau. Việc thương lượng, trao đổi giữa các đồng thừa kế không đương nhiên làm tạm dừng thời hiệu, nên nếu có thỏa thuận cần được lập thành văn bản để bảo đảm bằng chứng.

8. Di sản mở trước ngày 01/01/2017 thì tính thời hiệu thế nào?

BLDS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Đối với các trường hợp thừa kế phát sinh trước ngày này, Điều 688 khoản 1 điểm d BLDS 2015 quy định thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này. Do đó, khi giải quyết tranh chấp hiện nay, thời hiệu yêu cầu chia di sản vẫn được xác định theo mốc 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Điều này có nghĩa nhiều di sản là nhà, đất của người chết từ trước năm 2017 vẫn còn trong thời hiệu cho đến khi đủ 30 năm.

9. Hết thời hiệu mà vẫn muốn chia di sản: các hướng xử lý

Nếu xác định thời hiệu yêu cầu chia di sản đã hết, bạn vẫn có thể xử lý theo một số hướng sau:

  1. Các đồng thừa kế tự nguyện thỏa thuận phân chia di sản. Pháp luật không cấm những người thừa kế tự nguyện thỏa thuận chia tài sản; văn bản thỏa thuận nên được công chứng hoặc chứng thực để làm căn cứ đăng ký biến động đất đai, sang tên tài sản.
  2. Làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại UBND cấp xã hoặc tổ chức hành nghề công chứng khi không có tranh chấp. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn chi tiết tại bài viết thủ tục khai nhận di sản thừa kế đất đai.
  3. Khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu khi có người chiếm hữu, sử dụng tài sản trái phép. Điều 155 khoản 2 BLDS 2015 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp luật khác có quy định khác — trong khi Điều 623 là quy định đặc thù đặt ra thời hiệu riêng cho yêu cầu chia di sản.
  4. Yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản (trả nợ, hoàn trả tài sản) nếu vẫn còn trong thời hiệu 03 năm theo khoản 3 Điều 623 BLDS 2015.

Dù chọn hướng nào, bạn cũng nên thu thập đầy đủ giấy tờ về quan hệ thừa kế (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, trích lục khai tử, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…) để bảo vệ quyền lợi. Với hồ sơ phức tạp, việc tham vấn luật sư hoặc thẩm phán có kinh nghiệm về thừa kế là cần thiết.

10. Câu hỏi thường gặp về thời hiệu chia di sản thừa kế

Nhà đất do ông bà để lại đã hơn 30 năm thì còn chia được không?

Nếu tính đến nay đã quá 30 năm kể từ ngày ông bà mất, thời hiệu yêu cầu chia phần di sản là nhà đất đã hết; di sản về nguyên tắc thuộc về người thừa kế đang quản lý. Tuy nhiên, các đồng thừa kế vẫn có thể tự nguyện thỏa thuận phân chia, và Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của một bên đưa ra trước khi cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định.

Không có giấy chứng tử thì lấy ngày nào để tính thời hiệu?

Bạn nên xin trích lục khai tử tại UBND cấp xã nơi đã đăng ký. Nếu không xác định được ngày chết, người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo Điều 71 BLDS 2015; khi đó Tòa án xác định ngày chết làm căn cứ tính thời điểm mở thừa kế.

Đang thương lượng chia di sản thì thời hiệu có bị tạm dừng không?

Việc các đồng thừa kế thương lượng, trao đổi không đương nhiên làm tạm dừng thời hiệu. Chỉ khi thuộc trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc các trường hợp luật định khác (Điều 156 BLDS 2015) thì thời gian đó mới không tính vào thời hiệu. Vì vậy, nếu đã thống nhất được nội dung, các bên nên lập văn bản thỏa thuận để bảo đảm quyền lợi.

Di sản gồm cả nhà đất và tiền thì áp dụng thời hiệu nào?

Áp dụng theo từng loại tài sản: phần là bất động sản (nhà, đất) theo thời hiệu 30 năm; phần là động sản (tiền, vàng, sổ tiết kiệm) theo thời hiệu 10 năm. Do đó có thể xảy ra tình huống phần nhà đất vẫn còn thời hiệu nhưng phần động sản đã hết.

Hết thời hiệu thì người đang quản lý di sản có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

Theo khoản 1 Điều 623 BLDS 2015, khi hết thời hiệu, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó; cơ quan đăng ký đất đai căn cứ vào quy định pháp luật và hồ sơ cụ thể để giải quyết. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý, di sản có thể thuộc người đang chiếm hữu ngay tình theo Điều 236 BLDS 2015 hoặc thuộc Nhà nước. Bạn nên liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai để được hướng dẫn hồ sơ cụ thể.

Người thừa kế ở nước ngoài có bị giới hạn thời hiệu khác không?

Không có thời hiệu riêng cho người thừa kế ở nước ngoài. Thời hiệu yêu cầu chia di sản vẫn áp dụng theo Điều 623 BLDS 2015 (30 năm với bất động sản, 10 năm với động sản). Tuy nhiên, hồ sơ có yếu tố nước ngoài thường kéo theo yêu cầu về hợp pháp hóa lãnh sự, dịch thuật và có thể phát sinh vấn đề thẩm quyền, nên cần chuẩn bị sớm.

Bài viết liên quan

Kết luận

Tóm lại, theo Điều 623 BLDS 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý; nếu không có, có thể thuộc người chiếm hữu ngay tình theo Điều 236 hoặc thuộc Nhà nước. Tuy vậy, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của một bên, và các đồng thừa kế vẫn có thể tự nguyện thỏa thuận phân chia di sản.

Bài viết có tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cho một hồ sơ cụ thể. Khi áp dụng, bạn nên đối chiếu văn bản hợp nhất mới nhất của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nếu cần chuẩn bị mẫu đơn pháp lý cho hồ sơ của mình, bạn có thể tham khảo thêm tại Tiện Ích Pháp Luật.

Cập nhật ngày 26/09/2026.

f FacebookZ Zalo𝕏 X

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *